RSS

NATRI (SODIUM)

15 Mar

NATRI (SODIUM)

Natri là gì ?
Khi nói về natri, người ta nghĩ đến muối. Thật vậy, nguồn cung cấp thường xuyên natri là muối.
Vai trò của natri ?
Muối được tìm thấy khắp cơ thể. Người ta gọi đó là “áp lực thẩm thấu”. Nói cách khác, nó không ngừng từ bỏ ý định đi vào trong tế bào. Lượng muối tồn tại bên trong và bên ngoài tế bào sẽ thiết lập nên một trong những yếu tố chính để kiểm soát khả năng phân bố nước. Ở đâu có nhiều muối, ở đó sẽ có nhiều nước, tất nhiên muối có nhiều trong máu, dịch bao quanh tế bào và dịch mô kẽ hơn trong tế bào.
Nếu để muối bên trong màng tế bào, nó sẽ kéo nước vào ngày càng nhiều làm cho màng tế bào bị phù và đưa tới tình trạng ứ nước, cuối cùng sẽ làm vỡ tế bào. Điều này có thể xảy ra khi cũng rất nhiều nước đơn thuần, bị làm mất muối khoáng, cũng giống như vậy, thật sai lầm khi truyền vào cơ thể một lượng lớn dịch nhược trương vì khi đó hồng cầu sẽ dễ vỡ.
Vì vậy, điều quan trọng là tế bào phải có khả năng thải ra những lượng natri dư thừa. Để thực hiện được điều này, phải dùng nhiều chất vận chuyển, chủ yếu nhất là “bơm Natri”, bơm này sẽ đẩy lùi ion natri và đưa ion kali vào thay. Quá trình này xảy ra cần phải có năng lượng, vì bơm natri sẽ tiêu thụ 20% năng lượng được tiêu tốn mỗi ngày, gần bằng não.
Từ đó, người ta hiểu được chính xác tầm quan trọng của muối trong đặc tính giữ nước cũng như phù (do tích nước trong mô) và một vài dạng cao huyết áp động mạch.
Muối là một chất kết hợp với nước, chịu trách nhiệm phân bố nước giữa môi trường bên ngoài và tế bào.
Kết hợp với các ion khác, đặc biệt là bicarbonate, để tham gia vào sự cân bằng một hoạt động được theo dõi chặt chẽ bởi cơ thể và giữa acid và kiềm trong cơ thể, tạo ra pH máu ổn định. Khi sự trao đổi điện tích qua màng tế bào, muối sẽ can thiệp vào quá trình dẫn truyền luồng thần kinh và co cơ.
Thức ăn nào cung cấp natri ?
Nguồn cung cấp đầu tiên natri là thực phẩm :
Không có thức ăn nào không có muối, loại chứa ít nhất là dứa khoảng 0,3mg/100g. Do đó tốt hơn nên tìm những thực phẩm chứa ít muối, tránh những thực phẩm chứa nhiều muối. Cần phải phân biệt.
Thực phẩm ở tình trạng tự nhiên
Trái cây là thực phẩm cung cấp ít nhất cùng với phần lớn rau xanh.

Nguồn tự nhiên của Natri

Thực phẩm tự nhiên

mg/100g

 

Sò, thực phẩm tươi sống

Trứng

Thịt

Sữa

Fromage tươi

Rau tươi

 

70 đến 330

120 đến 130

70 đến 100

40 đến 90

50

40

5 đến 15

Hàm lượng muối thay đổi đáng kể, tùy theo tiêu chuẩn chọn lựa. Trong những thực phẩm được chế biến công nghiệp (đồ hộp, thịt nguội, fromage…) và đối với thực vật, tùy theo khí hậu, tình trạng nuôi trồng, mức độ chín muối và thời gian dự trữ. Trong số những thực phẩm được ướp muối, ai cũng biết đó là jambon hun khói, thịt nguội, fromage lên men, nước sốt công nghiệp…chứa nhiều muối. Ngoài ra, người ta không nghĩ đến muối cũng như không nhận thấy nó qua khẩu vị, đó là muối chứa trong một số sản phẩm bánh ngọt.
Các muối không nhìn thấy này cũng có mặt ở :
Nước khoáng và một vài nước uống
Một vài loại thuốc
Nước máy
Nguồn thứ hai cung cấp muối là muối thêm vào lúc nấu. Muối trắng, tinh chế mang lại khoảng 3g/100g natri, muối biển nhiều calci, magesi, sắt và yếu tố vi lượng. Tất cả muối đưa vào đều được hấp thu.
Nhu cầu hàng ngày của Natri là bao nhiêu ?
Được ước tính khoảng 800 đến 1600 mg/ngày. Chúng ta tiêu thụ trung bình 4000 đến 6000mg dưới dạng 10 đến 15 muối Nacl, cho nên vấn đề thiếu không đặt ra. Nhìn chung, một nửa natri được tiêu thụ từ các thức ăn tự nhiên, một nửa khác từ muối, được thêm vào khi nấu nướng.
Khi nào thì nhu cầu tăng lên?
Khi nhiệt độ cao, hoạt động thể lực nhiều, ra mồ hôi. Nông dân, người chơi thể thao và những người làm việc kéo dài dưới ánh nắng mặt trời, có thể bị ngất nếu mất muối do mồ hôi và không được bù lại, nhất là những người không có thói quen tiếp xúc.
Lúc bị nôn mửa, đi chảy kéo dài.
Dùng thuốc lợi tiểu hay thuốc xổ không có lý do.
Nó có thể được tăng lên trong một vài bệnh : viêm thận mất muối, bệnh addison.
Muối không tương ứng với nhu cầu nữa
Mức độ tiêu thụ muối hiện nay không tương ứng với tính cần thiết sinh lý. Nó là quá nhiều, vì hai lý do :
Sở thích đối với muối được tạo ra một cách nhân tạo và phát triển từ nhỏ.
Công nghiệp hóa dẫn đến nhu cầu tiêu thụ thực phẩm công nghiệp hóa.
Ngày nay, may mắn thay dùng thực phẩm đông lạnh và tủ lạnh đã làm giảm mức độ sử dụng muối .
1 muỗng café muối = 6g
1 muỗng tráng miệng muối = 13g
1 muỗng canh muối = 25g
1 g Natri Chlorure chứa 0,4 g Natri
Thiếu Natri có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Ở người khỏe mạnh, thích nghi với khí hậu, hoạt động thể lực trung bình, thiếu muối không gây bất lợi vì thận bình thường giữ lại natri cho cơ thể và kết hợp với một lượng nhỏ được đưa vào bởi thức ăn là đủ để bù lại sự mất sinh lý. Tuy nhiên, khi mất nhiều hay hạn chế muối quá mức sẽ có những dấu hiệu mất nước ngoại bào biểu hiện : khô miệng, chán ăn, mệt, tăng nhịp tim, đôi khi nôn làm nặng thêm vấn đề, co rút cùng với mức độ nặng hơn, nhãn cầu lõm, hạ huyết áp, da khô, nhăn. Những người dễ bị tổn thương khi mất cân bằng này là trẻ em và người già, đặc biệt khi nhiệt độ cao.
Những nhóm nguy cơ
Hạn chế muối cho phụ nữ có thai 3 tháng cuối là một biện pháp cổ điển để chống lại phù và tiền sản giật. Nhu cầu sử dụng muối cần thận trọng khi phát hiện ra có thai, vì nhu cầu tự nhiên của cơ thể về natri tăng cũng đủ khả năng cho phép tăng thể tích máu. Nhu cầu hạn chế natri có thể gây ra thiếu natri trong máu và phù sẽ bù trừ.
Bấy giờ người ta biết rằng, xu hướng giữ nước và muối là sinh lý trong lúc có thai và được điều khiển bởi quá trình tiết estrogen gia tăng. Thể tích máu gia tăng sẽ đi kèm một cách nghịch lý với giảm huyết áp động mạch. Thuốc lợi tiểu thật không cần thiết trong thời gian này vì nó rất có hại. Ngược lại, bổ sung thêm calci và magesi trong lúc có thai cho thấy có khả năng làm giảm cao huyết áp.
Nếu những người béo phải kiêng ăn thì chế độ giảm muối không làm họ gầy đi.
Đặc biệt, rất nguy hiểm khi người già ăn theo chế độ không có muối, ngay cả khi huyết áp họ cao. Phải được dung nạp khi huyết áp cao là một cách bình thường với lứa tuổi, vì nó cần để bù lại mức độ giảm lưu lượng não. Do đó chế độ ăn nhạt sẽ khiến họ có nguy cơ bị các vấn đề thần kinh. Mặt khác, người già sẽ không thích nghi tốt khi thiếu nước và thiếu muối vì muối cần cho sự ngon miệng, chế độ ăn không muối làm giảm sự ngon miệng vốn đã giảm ở người già, tạo điều kiện tăng nguy cơ bị gầy cũng như suy dinh dưỡng ở họ.
Khi nào người ta có thể tăng nhu cầu cung cấp muối lên ?
Khi hạ huyết áp, và các bệnh nhân bị bệnh addison
Trong phần lớn các trường hợp mất muối, đi kèm với mất dịch và một số điện giải khác.
Khi huyết áp cao. Phần lớn mọi người có thói quen ăn nhiều muối.
Không nên tập cho em bé có thói quen ăn mặn, hoặc có thói quen nấu thức ăn mặn
Không nên ăn quá nhiều thức ăn công nghiệp.
Nên uống nước khoáng giàu magesi và calci hơn là nước giàu Natri. Cuối cùng, nên ăn cá và thức ăn biển có chứa ít muối, nhiều dinh dưỡng bảo vệ cùng các rau trái ít natri và giàu kali. Trong trường hợp cao huyết áp, suy tim, xơ gan, có thể sử dụng muối kali thay thế.
Dùng muối khoáng thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?
Quá liều muối sẽ gây ra hai bệnh :
Những bệnh mà muối làm tăng dịch ngoại bào, phù toàn bộ như : suy tim, một vài bệnh thận, xơ gan.
Khởi phát bệnh cao huyết áp và có khả năng làm nặng thêm.
BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)

 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: