RSS

LƯU HUỲNH

15 Mar


Lưu huỳnh là gì ?
Lưu huỳnh có thể bị ôxy hóa dễ dàng và có mùi khó chịu. Nhưng đặc tính này đã cho phép nó đóng nhiều vai trò quan trọng giữa tế bào, mô, với tổ chức của chúng ta.
Lưu huỳnh không tồn tại dưới dạng đơn thuần trong cơ thể, nhưng dưới dạng sulfat, chúng được đưa vào bên trong nhiều phân tử, đặc biệt là dưới dạng acid amin. Các acid amin chính có lưu huỳnh là menthionin, chất cố định magesi.
Acid amin tồn tại tự do hoặc kết hợp trong protein, với lưu huỳnh nhiều nhất, trong các protein này là nhóm thiol của acid amin. Acid amin chứa lưu huỳnh có rất nhiều ở da, tóc, móng, niêm mạc, bề mặt và bên trong tế bào. Ở đó, nó có nhiệm vụ cần thiết là tổng hợp glutathion, chất khử độc chính cho tế bào.
Người ta cũng tìm thấy lưu huỳnh trong nhiều phân tử mucopolysaccharid của mô liên kết, insulin và vitamin B1.
Vai trò của lưu huỳnh ?
Đầu tiên, lưu huỳnh có vai trò cấu trúc giống như phức hợp của protein và mô liên kết. Nó là cầu nối giữa hai phân tử, giúp cho một lượng lớn mô liên kết bọc ngoài các mô và các tổ chức tạo thành sụn và gân.
Nó còn cho phép tạo nên lưới xương, nơi mà calci, phospho và magesi có thể được lắng đọng. Lưu huỳnh cũng tham gia vào quá trình tạo thành protein, từ các nhóm acid amin. Tiêu biểu là những nhóm thiol nơi các acid amin bên trong của một protein kết nối chặt chẽ. Để thực hiện một cầu nối giữa hai nhóm thiol, thông thường nguyên tử kẽm được nối với phần tận cùng của lưu huỳnh và giữ nó đối diện với một acid amin khác của kẽm, ví dụ histidin. Lưu huỳnh cũng có trong nhiều phân tử quan trọng như insulin hay protein P53, một phân tử chống ung thư, duy trì dạng cần thiết để chúng hoạt động. Vấn đề là các muối khoáng khác như đồng hay cadimi có thể đến và chiếm chỗ của kẽm, làm biến dạng phân tử và biến đổi hoạt tính của chúng. Đó là một trong những lý do tăng nguy cơ ung thư do thừa đồng.
Nhưng phân tử lưu huỳnh cũng có khả năng bị tấn công trực tiếp và tạo nên một tế bào đích ưu tiên cho các gốc tự do, các gốc tự do cùng tiếp tục ôxy hóa những phân tử lưu huỳnh.
Gốc tự do không phải luôn luôn “xấu”, chúng cũng tham gia vào hoạt động sinh lý của cơ thể và chỉ trở nên nguy hiểm khi dư thừa hay trong cơ thể thiếu arseni cần thiết để trung hòa lượng dư thừa cũng như làm giảm các phân tử bị ôxy hóa.
Arseni có nhiệm vụ chống gốc tự do được thiết lập từ một enzym sử dụng chính phân tử lưu huỳnh như glutathion, và của dinh dưỡng như selen, kẽm, đồng thời bảo vệ trực tiếp nhóm thiol, vitamin C, E, và bêta caroten mà người ta gọi là “vitamin chống ôxy hóa”. Điều quan trọng cho hoạt động của các cơ quan cũng như tạo điều kiện duy trì sức khỏe tốt là phải có sẵn một lượng dự trữ các chất chống ôxy hóa. Chúng có khả năng chống lại các gốc tự do bào mòn dưới tác dụng của mặt trời, ô nhiễm, chất độc, nhiễm trùng hay đơn giản là dư thừa calo, gắng sức hoặc stress.
Nếu không đủ cần thiết thì tế bào sẽ bị hư hỏng, già và đưa tới ung thư, bệnh tim mạch, đục thủy tinh thể, thoái hóa não. Phân tử lưu huỳnh cùng các chất bổ sung cho chúng, như kẽm, selen, magesi và vitamin chống ôxy hóa sẽ hiện diện đầy đủ trong một cơ thể khỏe và ngăn ngừa được sự suy tàn. Cùng các bệnh đi kèm với lão hóa. Chúng giữ vị trí hàng đầu trong quá trình chống lại ô nhiễm và chất độc. Thực vậy, taurin được gắn vào các chất không mong muốn này để hướng chúng ra ngoài, theo đường mật, và thải ra phân. Glutathion chứa cysteine có lưu huỳnh, là vũ khí khử độc chính của tế bào. Cuối cùng, sulfat cho phép trung hòa các chất độc, những chất góp phần tạo nên hiện tượng lão hóa và xuất hiện bệnh.
Nhu cầu của lưu huỳnh là bao nhiêu ?
Nhu cầu về acid amin có lưu huỳnh được ước tính mỗi ngày khoảng 13mg/kg trọng lượng đối với phụ nữ và 14mg/kg trọng lượng đối với nam.
Lưu huỳnh có trong những thực phẩm nào ?
Đầu tiên đó là các sulfat được tìm thấy trong một vài loại nước khoáng, thực phẩm giàu lưu huỳnh nhất là thức ăn biển, nấm, tỏi, hạt có dầu, thịt, cá, trứng (nhất là lòng đỏ).
Mùi của lòng đỏ trứng, móng hay tóc bị cháy là do nhiều lưu huỳnh.
Thiếu lưu huỳnh có biểu hiện triệu chứng như thế nào?
Một vài chế độ ăn nghèo methionin, ví dụ chế độ ăn chay dẫn đến thiếu lưu huỳnh. Ngoài ra, người ta đã thấy, khi bị stress, nhiễm trùng, ô nhiễm hay tiếp xúc với mặt trời là tạo điều kiện phá hủy phân tử lưu huỳnh.
Là chậm mọc tóc, móng. Những dấu hiệu khác trong một thời gian dài vẫn chưa xuất hiện như : giảm sức đề kháng, chống ôxy hóa giảm mức độ thông tin giữa các tế bào, vận chuyển màng…Tất cả dấu hiệu này chỉ biểu hiện khi có nhiều tế bào bị ảnh hưởng: tăng tính tổn thương với nhiễm trùng và tần số của một vài bệnh thoái hóa như nhiễm mỡ ở gan.
Trường hợp nào nên dùng lưu huỳnh ?
Cystein được sử dụng rộng rãi để kích thích quá trình tổng hợp niêm mạc và tạo điều kiện dễ cho khạc đờm. Nó cũng được đưa ra với kẽm và B6 để kích thích mọc tóc và móng. Đặc biệt, lưu huỳnh kê đơn ngày càng nhiều ở người HIV(+).
Cystein, glutathion, taurin được sử dụng kết hợp cùng các chất chống ôxy hóa, để củng cố khả năng khử độc và giúp đề kháng chống ô nhiễm, tác dụng âm tính của một vài loại thuốc hoặc điều trị tia xạ và dùng cho người hút thuốc lá. Taurin có tác dụng dự trữ magesi nên được kê đơn trong điều trị suy tim.

BS.PHÙNG HOÀNG ĐẠO (Theo Encyclopédie des minéraux)
 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: