RSS

STRESS

17 Jan

STRESS
Định nghĩa.
Stress đơn giản chỉ là một phần của tự nhiên, là những lực tác động của ngoại cảnh lên một cá thể nhất định. Vì vậy, tất cả vật thể sống đều có mối liên hệ khắng khít với môi trường xung quanh cả về bản chất lẫn hành vi. Dĩ nhiên các lực tương tác này hiện hữu trong các mối quan hệ giữa mọi vật trong vũ trụ cho dù đó là sinh vật hay những vật vô tri vô giác. Tuy nhiên, giữa các sinh vật khác nhau sẽ có những điểm khác nhau quan trọng trong mối liên hệ với môi trường của chúng. Những khác biệt này có mục đích sâu xa là nhằm sinh tồn. Do cuộc sống hiện đại ngày nay đầy rẫy stress khiến chúng ta thường nghĩ đó là một tác động tiêu cực. Nhưng theo quan điểm sinh học, stress có thể là trung tính, là tiêu cực hay là tích cực.
Stress định hướng cho sự thay đổi của tiến hóa (đó là sự phát triển và chọn lọc tự nhiên của các loài theo thời gian). Vì vậy, những loài nào thích ứng tốt nhất với các nguyên nhân của stress sẽ tồn tại và phân hóa theo 2 ngành động vật hay thực vật như chúng ta thấy ngày này. Do sự tiến hóa của bộ não người đặc biệt là ở phần võ não, con người là sinh vật có khả năng thích nghi nhất trên trái đất. Vì lẽ đó, không như các loài khác, chúng ta có thể tồn tại trong mọi thời tiết mọi hệ sinh thái, trên các độ cao khác nhau và tránh được sự hiểm nguy của thú săn mồi. Hơn thế nữa, gần đây, chúng ta đã học được cách sống trên không, dưới biển và thậm chí trong không gian-nơi mà chưa một vật thể sống chúng ta được biết nào có thể tồn tại. Vớt tất cả lý do trên, chúng ta có vấn đề gì với stress?

Sơ lược về lịch sử của stress.
Chìa khóa để hiểu được khía cạnh tiêu cực của stress là khái niệm về môi trường nội tại của cơ thể (nội môi-milieu interiur), được đề xuất đầu tiên bởi một bác sĩ nổi tiếng người Pháp Claude Bernard. Trong khái niệm này, ông ta miêu tả về nguyên lý của sự cân bằng động. Trong cân bằng động, tính hằng định-một trạng thái bền vững của môi trường trong cơ thể-là yếu tố cơ bản của sự sống còn. Do đó, những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội tại này khiến cơ thể phải phản ứng lại và bù trừ nhằm tồn tại. Ví dụ của những tác động ngoại lai bao gồm nhiệt độ, nồng độ oxy trong khí quyển, quá trình tiêu thụ năng lượng và sự hiện hữu của vật săn mồi. Thêm vào đó, bệnh tật cũng là một loại gây stress đe dọa sự ổn định của nội môi.
Bác sĩ chuyên khoa thần kinh nổi tiếng, Walter Cannon, đã đặt ra thuật ngữ “sự cân bằng nội môi”(homeostasis) để định nghĩa rõ nét hơn về khái niệm cân bằng động do Bernard miêu tả. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra các yếu tố gây stress không chỉ là sự tác động của lý tính mà còn từ những xúc cảm. Thông qua các thí nghiệm của mình, ông đã chứng minh được con người hay bất cứ loài động vật nào khác đều có đáp ứng “chiến đấu hay tháo chạy” khi gặp nguy hiểm. Hơn thế, Canon đã theo dõi những phản ứng trên với sự phóng thích của một loại chất dẫn truyền thần kinh mạnh gọi là nor-epinephrine (hay còn gọi là nor-adrenaline) từ vùng tủy của tuyến thượng thận.(Chất dẫn truyền thần kinh là một loại chất hoá học của cơ thể mang các thông tin đến và đi từ các tế bào thần kinh).
Một nhà khoa học tiên phong về stress khác là Hans Selye đã mở rộng thêm những quan sát của Cannon. Ông theo dõi một tuyến nhỏ ở vùng nền não mang tên là tuyến yên như là một phần của hệ thống đáp ứng stress của cơ thể. Ông đã miêu tả khả năng kiểm soát quá trình tiết các loại hormôn (như cortisol) của tuyến yên thông qua vùng vỏ của tuyến thượng thận. Không những thế, ông thực sự là người đã giới thiệu thuật ngữ ”stress” từ các nhà vật lý, kỹ sư cơ khí với định nghĩa đó là ”những lực tương tác qua lại xảy ra giữa bất cứ phần nào của cơ thể, từ thể xác hay tinh thần”.
Trong các thí nghiệm của mình, Selye đã tạo stress theo nhiều cách khác nhau. Ông đã tìm ra những kiểu đáp ứng cố định và đặc trưng với các tình huống nguy hiểm trên chuột. Đối với những con chuột được gây stress liên tục, ông quan sát thấy hai tuyến thượng thận phì đại, loét dạ dày ruột, và hệ miễn dịch teo nhỏ và gọi những đáp ứng trên là quá trình thích ứng(hoặc điều chỉnh) tổng quát hay hội chứng stress. Ông phát hiện ra rằng các quá trình trên vốn rất bình thường và là sự thích nghi của sinh vật nhằm loại bỏ stress có thể trở nên quá nhiều giống như các loại bệnh. Điều này có nghĩa là nếu quá trình thích nghi xảy ra quá nhiều thì nó có thể gây tổn hại cho cơ thể. Kể từ đây những hiểu biết về nguyên nhân khiến stress hay nói chính xác hơn là stress quá mức có thể gây hại và tại sao thuật ngữ “stress” lại mang một ý nghĩa tiêu cực như vậy đã và đang bắt đầu hé mở.
Hiện nay có một giả thuyết cũng như một số bằng chứng chỉ ra rằng các đáp ứng stress bất thường có liên quan đến nguyên nhân của nhiều bệnh. Chúng bao gồm những rối loạn về lo lắng, trầm cảm, tăng huyết áp, một số tình trạng loét và các bệnh dạ dày-ruột khác, vài loại ung thư, và thậm chí cả quá trình lão hóa. Stress dường như cũng làm tăng tần suất cũng như độ nặng của đau đầu nửa bên, cơn hen và các bất ổn về đường huyết ở các bệnh nhân đái tháo đường. Những stress về tâm lý quá mức (như sự kiện ngày 11 tháng 9) có thể gây nên các triệu chứng thoáng qua hoặc kéo dài của bệnh tâm thần nặng và được gọi là những rối loạn stress sau chấn thương (PTSD).( Để biết thêm chi tiết về PTSD, chúng tôi có bài viết riêng về PTSD). Tuy nhiên, làm thế nào mà một đáp ứng thích nghi và lành mạnh trên lại trở thành kẻ thù của chúng ta?

Thế nào là một đáp ứng lành mạnh đối với stress?
Vấn đề then chốt đối với một đáp ứng thích nghi trước stress là diễn tiến thời gian. Các đáp ứng cần phải được khởi động một cách nhanh chóng, duy trì trong một khoảng thời gian thích hợp và sau đó phải được kết thúc nhằm đảm bảo đạt hiệu quả tốt nhất. Một đáp ứng quá mức hay không thể chấm dứt có thể đem lại những hậu quả tiêu cực về mặt sinh học trên một cá thể. Những đáp ứng lành mạnh của con người bao gồm 3 thành phần:
Bộ não điều khiển quá trình đáp ứng tức thời. Đáp ứng này báo hiệu cho tủy thượng thận phóng thích norepinephrine.
Vùng hạ đồi (ở trung tâm của não) và tuyến yên khởi động đáp ứng duy trì, chậm hơn. Đáp ứng nào báo hiệu vỏ thượng thận phóng thích cortisol và các hormôn khác.
Rất nhiều vòng thần kinh tham gia vào đáp ứng về hành vi. Đáp ứng này làm: tăng sự thức tỉnh (tình trạng báo động, ý thức về độ cao), khả năng tập trung, ức chế ăn uống, hành vi sinh sản, giảm cảm giác đau và định hướng lại hành vi.
Các kết quả tổng hợp của ba thành phần này trong đáp ứng stress duy trì hằng định nội môi, tăng sản xuất và tiêu dùng năng lượng, thay đổi cân bằng nước-điện giải. Chúng cũng bật đèn xanh cho sinh vật có phản ứng nhanh thông qua hệ thần kinh giao cảm(SNS). Hệ thần kinh giao cảm làm tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng dòng máu tới tim, cơ, não và giảm tới đường tiêu hóa, tăng phóng thích năng lượng (đường, acid béo) nhằm giúp chiến đấu hoặc chạy trốn khỏi nguy hiểm.

Cơ chế của một đáp ứng stress.
Những công trình nghiên cứu suốt 20 năm qua đã mang lại cho chúng ta nhiều thông tin về một đáp ứng stress cho dù cơ chế đầy đủ vẫn chưa được biết hết. Có hai hệ thống liên quan chính đó là trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận(HPA) và hệ thần kinh giao cảm(sẽ được đề cập bên dưới). Hệ thần kinh giao cảm tiết ra nor-epinephrine dưới sự kích thích chủ yếu của một vùng ở thân não gọi là nhân lục. Có 5 khái niệm quan trọng nhất phải nhớ khi đề cập đến hai hệ thống này là:
Chúng được kiểm soát bởi một vòng phản hồi ngược(feedback) nhằm điều hoà đáp ứng. (Trong vòng phản hồi ngược, sự tăng về số lượng của một chất chẳng hạn như hormôn sẽ ức chế sự phóng thích của nhiều chất khác và ngược lại.)
Hai hệ thống này tương tác với nhau.
Cả hai đều ảnh hưởng lên các hệ thống và chức năng khác của não.
Các khác biệt về gen sẽ ảnh hưởng lên khả năng đáp ứng của hai hệ thống trên.( Điều này nghĩa là, con người có thể đáp ứng khác nhau với cùng một loại stress tùy thuộc vào kiểu gen của họ.)
Những đáp ứng kéo dài và quá mức của hai hệ thống này có thể gây hại cho một cá nhân nào đó.

Vai trò của trục hạ đồi-tuyến yên-thượng thận(HPA) trong stress.

Trục HPA là một nhóm các đáp ứng với stress từ não, tuyến yên và tuyến thượng thận. Đầu tiên, vùng hạ đồi (nằm ở trung tâm não) phóng thích một hợp chất mang tên “yếu tố phóng thích hướng corticoid-CRF” vốn được phát hiện vào năm 1981. CRF sau đó được chuyển xuống tuyến yên, kích thích sự phóng thích của hormôn ACTH. Hormôn này đi tiếp vào máu và làm vỏ thượng thận tiết ra các hormôn stress đặc biệt là cortisol, một loại corticosteroid. Cortisol huy động nguồn cung cấp năng lượng (đường, mỡ và chuyển hóa glucose) cần cho đáp ứng với stress. Tuy nhiên, nếu nồng độ cortisol vẫn tăng trong thời gian dài sẽ dẫn tới teo cơ, giảm đáp ứng viêm và ức chế hệ thống miễn dịch.
Các loại corticosteroid với liều nhất định được sử dụng trong điều trị rất nhiều bệnh có hệ miễn dịch hoạt động quá mức như hen và bệnh viêm ruột do chúng ức chế hệ miễn dịch. Cũng vì khả năng đó mà corticosteroid còn được dùng để giúp làm giảm khả năng đào thải mảnh ghép do miễn dịch. Corticosteroid cũng có thể gây tích tụ dịch và tăng huyết áp. Do đó, điều quan trọng là những đáp ứng với corticosteroid cần phải được kiểm soát kỹ lưỡng. Quá trình kiểm soát này thường thông qua cơ chế phản hồi ngược qua đó sự tăng nồng độ của cortisol sẽ ức chế ngược trở lại vùng hạ đồi và tuyến yên tiết ra ACTH. Thêm vào đó, nồng độ cortisol cao trong máu có thể gây trầm cảm và loạn tâm thần, tuy nhiên tình trạng này sẽ biến mất khi nồng độ cortisol trở về bình thường.

Vai trò của nhân lục trong stress.

Nhân lục liên kết với nhiều phần khác của não, đặc biệt là những vùng tập hợp và xử lý các thông tin về cảm giác bao gồm thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nó tiết ra nor-epinephrine và kích thích các trung tâm khác của não làm tương tự. Điều này giống như là một máy tạo nhịp của não. Do đó, nhân lục làm tăng sự thức tỉnh (ý về độ cao, các tình trạng báo động), cảnh giác (kỹ lưỡng, đề phòng) và điều chỉnh hoạt động của hệ thần kinh tự chủ. Hệ thần kinh tự chủ điều hoà lưu thông dòng máu, huyết áp, nhịp tim và hô hấp. Nó cũng tạm thời cắt đứt hoạt động tiêu hoá và sinh dục cho tới khi qua cơn stress. Những phản ứng ban đầu này nhằm cung cấp năng lượng cho lưu thông dòng máu, co bóp cơ tim và hoạt động của cơ xảy ra rất nhanh và tự phát.

Các đường liên kết trong não hoạt động như thế nào khi stress?
Trục HPA và nhân lục liên kết với nhau thông qua vùng hạ đồi và hệ viền. Hệ viền là vùng kiểm soát cảm xúc và xử lý trí nhớ. Đây là những liên kết rất quan trọng. Một ví dụ minh hoạ là khi bạn thấy các lùm cây xáo động, nhân lục của bạn ngay lập tức phát ra tính hiệu lẩn tránh (đáp ứng stress). Những nếu sau đó phát hiện ra rằng đó không phải là một loài sư tử núi mà là một chú chó lông vàng thì những ký ức cho biết đây là một loại vật đã thuần hoá sẽ dập tắt đáp ứng stress ban nãy. Tương tự như vậy, khi một người lo lắng về buổi diễn thuyết trước đám đông nếu trải qua một hoặc hai phút suông sẽ, cảm giác hạnh phúc sẽ ức chế nhân lục hoạt động. Chính những điều chỉnh nội tại này đã giải thích cho tại sao các diễn giã có kinh nghiệm thường khởi đầu bằng một câu nói đùa. Điều đó giúp họ bình tĩnh cũng như tạo sự thư giãn cho người nghe.
Sự liên kết cũng bao gồm hệ thống opiate (một chất gây nghiện) nội sinh và hệ thống thưởng (dopamin). Bằng cách này mà trong suốt quá trình stress, cơn đau sẽ giảm bớt và có thể tạo ra một cảm giác hưng phấn cao độ. Những liên kết này giải thích một phần cho “cảm giác mạnh” và vì sao chúng ta thích tàu lượn siêu tốc hay xem phim kinh dị.
Vậy các liên kết này hoạt động như thế nào? Hệ viền làm nhiệm vụ phân tích cảm xúc và ôn lại trí nhớ về các thông tin do các giác quan mang lại. Sau đó, các liên kết đa chiều giúp chúng ta xác định được stress trên là:
Một vấn đề đã gặp phải và được thích nghi từ trước.
Một sự kiện vô hại.
Một mối nguy hiểm thật sự.
Tất cả các hoạt động nội tại trên chỉ diễn ra trong vài phần triệu giây.

Chúng ta biết gì về những ảnh hưởng của stress lên các hoạt động đáp ứng đôi khi quá tải của hệ thống nội tại?

Các nghiên cứu trên động vật và con người đã đem lại nhiều hiểu biết về các hệ thống stress nội tại. Khi vật thí nghiệm được tác động bởi một stress kéo dài (thường là bỏ đói, kích thích dòng điện nhẹ vào chân hay treo), chúng xuất hiện hội chứng stress bao gồm tăng huyết áp, chán ăn, sụt cân, teo cơ, loét ống tiêu hoá, giảm sinh hoạt tình dục, ức chế hệ miễn dịch và trầm cảm. Những nhà nghiên cứu cũng ghi nhận rằng stress mạn tính làm tăng độ nhạy cảm của hệ thống stress. Điều này nghĩa là hệ thống này sẽ đáp ứng mạnh hơn với một tác nhân tạo stress cấp tính mới. Họ ghi nhận thêm rằng cho uống một số thuốc như amphetamines hay cocaine cũng làm tăng độ nhạy cảm của đáp ứng stress. Hơn thế, stress liên tục có thể làm tăng khả năng tự sử dụng thuốc của loài vật thí nghiệm. Vì vậy, stress càng nhiều thì càng có nhiều chuột đi kiếm thuốc và độ nhạy cảm với stress tăng thêm.
Việc cách ly sớm khỏi người mẹ cũng là một tác nhân gây stress mạnh khác ở các loài động vật. Sự cách ly như vậy có liên quan đến tăng nồng độ stress hormôn khiến gây ra hội chứng stress bao gồm trầm cảm. Những nghiên cứu trên người đang được tiến hành nhằm đánh giá làm thế nào mà stress trên người mẹ ngay cả những tháng đầu của thai kỳ có thể ảnh hưởng lên sự phát triển của bào thai. Một ví dụ là người mẹ khi mang thai bị stress có thể khiến cho đứa trẻ dễ bị trầm cảm khi lớn lên.
Tại sao stress ở thai phụ ảnh hưởng lên thai nhi? Câu trả lời là do mẹ và thai nhi có hệ tuần hoàn qua lại chung. Bạn có thể thấy rằng thai nhi có thể mang cả những cái tốt (như dinh dưỡng, oxy) và cái xấu từ máu mẹ. Những thành phần xấu đó là rượu, nicotine, thuốc, các chất stress như cortisol và nor-epinephrine.
Những nghiên cứu trên người và động vật trên dường như chỉ ra rằng stress dẫn tới trầm cảm. Nói theo một cách khác, stress mạn tính trên dạ con của người mẹ hoặc cách ly em bé với người mẹ quá sớm có thể khiến cho đứa trẻ sau này dễ biểu hiện hội chứng tâm thần của bệnh trầm cảm. Hơn nữa, những thí nghiệm khác cho thấy việc dùng các hormôn stress có thể thực sự hạn chế các kết nối trong não và thậm chí trong các tế bào não ở những vùng quan trọng như hệ viền (vùng kiểm soát cảm xúc và trí nhớ). Điều này về sau có thể dẫn tới những đáp ứng kém thích nghi (hay còn gọi là những điều chỉnh không đầy đủ) đối với stress.
Quan trọng hơn, một số loại stress nhất định có thể gây nguy hiểm nhiều hơn các loại khác. Nghĩa là một vài loại stress thật sự có thể gây ra bệnh ví dụ như những stress đến một cách đột ngột và không thể kiểm soát (dường như đây là thủ phạm chính). Điều đó giải thích tại sao chúng ta vẫn chưa nắm rõ tác hại đầy đủ của sự kiện 11-9, sau vụ cháy Trung Tâm Thương Mại Thế Giới. Tuy vậy, đương đầu và thích nghi với stress không nhất thiết là điều xấu. Thật ra chúng ta có thể tìm hiểu chúng, dự đoán khả năng tái phát và có kế hoạch hành động làm giảm và tránh stress trong tương lai. Theo cách này, một số stress có thể thực sự kích thích sự phát triển nhân cách và sinh học do những thay đổi thích nghi mang lại. Thực vậy, rất nhiều liệu pháp tâm lý theo kinh nghiệm là dựa trên khái niệm này. Thực tế là nhiều nhà điều trị không để ý đến các quá trình sinh học làm nền tảng cho công việc của họ.

Những kết luận về ảnh hưởng của stress.

Những stress không thể kiểm soát, đột ngột và kéo dài sẽ gây nên những hậu quả tiềm tàng cho sức khoẻ thể chất và tinh thần. Chúng có thể bắt đầu từ giai đoạn bào thai và lặp lại liên tục trong suốt một đời người. Một trong những hậu quả bệnh lý của stress chính là sự hình thành ý nghĩ bị bỏ rơi và dẫn tới biểu hiện bi quan, tuyệt vọng của bệnh trầm cảm. Không những thế, các stress quá mức và mạn tính dường như cũng gây nên rất nhiều bệnh mà có thể kể ra đây là tình trạnh lo lắng kéo dài, tăng huyết áp, bệnh tim và nghiện ngập.
Tuy nhiên, tạo hoá đã ban cho chúng ta một cơ chế để đương đầu với stress hoàn hảo thông qua trục hạ đồi-tuyền yên-thượng thận và hệ thống thần kinh giao cảm/nhân lục. Thêm nữa, các nghiên cứu đã chứng minh được những giả thuyết về các quá trình sinh học trên là hoàn toàn đúng đắn. Điều đó nghĩa là nếu có quá nhiều stress đặc biệt là những loại diễn ra đột ngột hoặc không thể kiểm soát thì có hại cho sức khoẻ.

Làm thế nào để kiểm soát stress?

Một số kế hoạch chăm sóc sức khỏe sẽ trở nên rất đơn giản nếu chúng ta nắm được nguyên nhân gây stress, những đáp ứng tự nhiên với stress và các hiệu quả tiêu cực của vài loại stress (kéo dài, đột ngột và không thể kiểm soát). Thứ nhất là tập thể dục. Khi đáp ứng với stress yêu cầu chúng ta chiến đấu hoặc trốn chạy thì cơ thể phải ở trong tư thế sẵn sàng. Tuy nhiên, điều không may mắn là stress thường hay đến trong khi bạn đang ngồi, đứng trong một máy làm lạnh nước, hoặc ngồi sau tay lái và kẹt trong một dòng xe. Tập thể dục đều đặn giúp loại bỏ và tiêu thụ hết các hormôn và các chất hóa học thần kinh liên quan đến stress. Vì vậy, phương pháp này có thể giúp tránh các tác hại của stress kéo dài lên sức khỏe. Thêm vào đó, các nghiên cứu đã cho thấy tập thể dục là một cách chống trầm cảm, chống lo lắng và giúp ngủ ngon hiệu quả trên nhiều người mà không cần phải uống thuốc.
Lợi ích của phương pháp ngồi thiền và các kĩ thuật thư giãn khác đã được biết đến rộng rãi hàng thế kỷ nay trong tập tục tín ngưỡng của người phương Đông. Ngày nay,Tây y cũng như ngành tâm thần học đã khám phá lại các kinh nghiệm đặc biệt này, chuyển thành những phương pháp đơn giản, ít huyền bí hơn và kiểm tra hiệu quả của chúng một cách khoa học. Vì vậy, 20 đến 30 phút ngồi thiền một hoặc hai lần trong ngày có thể mang lại những hiệu quả có lợi lâu dài cho sức khỏe. Thật vậy, những người ngồi thiền ở đẳng cấp cao thậm chí có thể kiểm soát rõ rệt huyết áp cũng như nhịp tim.
Ngừng sử dụng thuốc và uống rượu vừa phải là chìa khóa cho kiểm soát thành công stress. Chúng ta biết rằng những thứ trên thường là giải pháp của người bị stress. Nhưng chúng ta cũng biết rằng rất nhiều chất làm tăng độ nhạy cảm của đáp ứng stress. Do đó chỉ cần một vấn đề nhỏ cũng gây ra sự tăng nhanh đột ngột của các chất stress. Quan trọng hơn, việc tìm kiềm đến thuốc và rượu để che đậy stress thường ngăn cản con người đối diện trực tiếp với vấn đề. Kết quả là họ không thể tìm ra những cách hiệu quả để đương đầu hay loại bỏ stress.
Thêm vào đó, thậm chí những thuốc được kê toa cho chứng lo lắng như diazepam(Valium), lorazepam (Ativan) hay alprazolam (Xanax) có thể gây tác dụng ngược theo cách trên. Vì vậy, những loại thuốc này chỉ nên được sử dụng một cách thận trọng dưới sự chỉ dẫn chặt chẽ của người thầy thuốc. Tuy nhiên, nếu stress gây bệnh lý tâm thần nặng nề giống như rối loạn stress sau chấn thương, bệnh trầm cảm hay rối loạn lo lắng, thì việc sử dụng thuốc hướng tâm thần đặc biệt là SSRis(thuốc ức chế tái hấp thụ serotonin có chọn lọc) cực kỳ có lợi. Một số ví dụ về thuốc thuộc nhóm SSRis bao gồm sertraline (Zoloft), paroxetine (Paxil)hay fluoxetine (Prozac, Magrilan).
Chúng ta biết rằng stress mãn tính và không thể kiểm soát là có hại. Do đó, nghỉ ngơi và chống trầm cảm là rất quan trọng. Nên dùng bữa cơm trưa và không đề cập về công việc. Nên đi dạo thay vì dùng café trong giờ nghỉ. Sử dụng ngày cuối tuần để thư giãn và đừng lên nhiều kế hoạch quá sẽ khiến cho sáng thứ hai dường như là một bữa thư giãn. Hãy học cách nhận biết dấu hiệu của stress. Nên có kỳ nghỉ đều đặn hay thậm chí kéo dài những ngày cuối tuần, hay khoảng thời gian đầu óc thanh thản giữa những khoảng thời gian học tập sẽ tốt cho bạn.
Hãy tạo khả năng dự đoán công việc và đời sống gia đình càng nhiều càng tốt. Nếu cuộc sống bạn quá đơn điệu và theo một khuôn mẫu thì không thể hạn chế được những điều bất ngờ xảy ra. Tuy nhiên, cách sống đó có thể tạo ra một kiểu đáp ứng sẵn có, tiện lợi trước những bất ngờ. Phải suy nghĩ trước khi hành động, đặt ra mọi khả năng từ tốt đến xấu có thể xảy ra trong công việc hay trong gia đình. Hãy tự lập ra các tình huống và kế hoạch đối phó. Bạn có thể nhận ra rằng những điều bất ngờ thực sự không phải lúc nào cũng luôn luôn đến một cách đột ngột. Với sự chuẩn bị như vậy, bạn có thể biến stress thành một động lực thúc đẩy cho sự trưởng thành và đổi mới.

Viễn cảnh tương lai của stress.

Stress là một phần của cuộc sống và luôn hiện hữu xung quanh ta. Những chìa khoá để đối diện với stress là sự kiểm soát thích hợp đối với các yếu tố gây stress và điều khiển được những đáp ứng của thể xác và tinh thần. Do đó, người ta đang tiến hành nhiều phương pháp lý thú để điều trị sớm trong những tình huống stress nặng nề (như sự kiện 11-9). Phương pháp này có tên CiSD (tạm dịch là nhìn lại stress đã trải qua) bao gồm thảo luận lại về sự kiện gây tổn thương càng sớm càng tốt. Thực tế là CiSD có thể làm giảm phản ứng quá mức với stress và ngăn chặn chứng rối loạn stress sau chấn thương, xảy ra ở các dạng tồi tệ nhất. Hy vọng rằng, những khái niệm về CiSD có thể chuyển thành những phác đồ điều trị hữu ích để nhân rộng áp dụng cho các loại stress thông thường khác.
Tất cả chúng ta đều có những đáp ứng với stress khác nhau chút ít do bởi cấu tạo của gen. Trong tương lai có lẽ chúng ta có thể thay đổi được các gen ví dụ như khi được xác định về gen là người quá nhạy cảm hay tương đối lãnh cảm.
Thêm vào đó, ngành thuốc tác động lên gen (là những thuốc thâm nhập vào AND của tế bào kích hoạt hay ức chế một số gen nhất định) đang có rất nhiều hứa hẹn trong lãnh vực stress.


Sơ lược về stress.
Stress là một phần bình thường của cuộc sống mà có thể giúp chúng ta hiểu biết thêm và phát triển cũng như có thể gây nhiều vấn để phiền toái.
Stress phóng thích những chất thần kinh và hormôn mạnh để chuẩn bị cho hành động (chiến đấu hay trốn chạy).
Nếu chúng ta không hành động, đáp ứng với stress có thể gây các vấn đề về sức khỏe.
Các stress kéo dài, đột ngột, không thể kiểm soát, không thể can thiệp là những loại gây tổn thương nhiều nhất.
Cách ly con khỏi mẹ quá sớm có thể gây những thay đổi trong đáp ứng với stress và dẫn tới trầm cảm về sau.
Người mẹ bị stress có thể ảnh hưởng đến đáp ứng stress của thai nhi và có lẽ khiến đứa trẻ dễ gặp phải bệnh tâm thần về sau.
Có thể kiểm soát stress bằng tập thể dục đều đặn, ngồi thiền hay các phương pháp thư giãn khác, bố trí thời gian nghỉ và học các phương pháp đương đầu mới để tạo khả năng tiên đoán các vấn đề trong cuộc sống.
Rất nhiều cách đối diện stress của chúng ta như các loại thuốc, thuốc phiện, rượu, hút thuốc và ăn uống thực sự chỉ làm trầm trọng thêm stress và có thể làm tăng độ nhạy cảm với các stress về sau.
Trong khi có nhiều phương pháp điều trị hứa hẹn cho stress thì kiểm soát stress phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác của bệnh nhân để thực hiện những thay đổi cần thiết để có lối sống lành mạnh.

 
Leave a comment

Posted by on January 17, 2008 in Stress

 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: